Bùi Công Minh

Nhà thơ Bùi Công Minh sinh 1947 ở thành phố Đà Nẵng, tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường đại học Sư phạm Hà Nội năm 1967, nhiều năm sống và làm việc tại Hà Nội. Từ 1992, ông về sống và làm việc tại Đà Nẵng.

Ông từng trải qua nhiều công việc: dạy học, phục vụ trong quân đội, làm công tác quản lý; hiện là Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam tháng 12.2012.

Bùi Công Minh cùng chuyện về Ngày và đêm

Đến nay, ca khúc Hành khúc ngày và đêm vẫn ngân vang, bởi những cảm xúc mà phần nội dung ca từ không hề gói gọn trong một phạm vi mang tính giai đoạn. Đó là cái tình muôn thuở, cái tình vĩnh cửu của con người, bởi còn sống thì người ta còn yêu.

Nhà thơ Bùi Công Minh viết bài thơ Ngày và đêm khi ông 21 tuổi. Lúc ấy, ông vừa tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội. Trong cảm nhận của chàng sinh viên văn khoa ngày đó, một đặc điểm lớn của tình yêu thời chiến tranh là sự xa cách. Đã có những bài thơ tình được viết trong giai đoạn đất nước chiến tranh nói về điều này: Anh ở đầu sông em cuối sông hay Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây. Với Bùi Công Minh, ông chọn đại lượng thời gian để nói về sự xa cách trong tình yêu, đó là ngày và đêm. Giữa ngày và đêm, con người yêu thương, con người chiến đấu, con người lao động, nhưng khoảng cách thời gian luôn là thứ lửa làm bùng cháy mãnh liệt tình yêu của con người giữa chiến tranh.

Duyên nợ

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, với thế hệ của nhà thơ Bùi Công Minh, có lẽ hai hình tượng được xem là đẹp hơn cả, đó là hình tượng người lính, cụ thể hơn là người chiến sĩ pháo binh và hình tượng cô giáo. Một bên là những người lính dũng cảm “vít đầu kẻ thù xuống”, tạo nên “cái chết cúi gục đầu” của kẻ địch; một bên là những người làm công tác giáo dục, gieo mầm và chăm chút sự sống cho những thế hệ tương lai của Tổ quốc. Chàng thi sĩ đang độ 20 ngày đó đã chọn hai hình ảnh này để xây dựng nên bài thơ Ngày và đêm.

Lúc viết bài thơ này, Bùi Công Minh chưa đi bộ đội, nhưng cảm xúc về chiến tranh với ông rất đậm nét. Ngay từ năm thứ nhất đại học, Bùi Công Minh đã gặp người yêu, mà sau này chính là vợ ông – cô gái ấy về sau cũng trở thành nhà giáo. Và bài thơ Ngày và đêm trở thành sự tiên đoán riêng với cuộc đời thi sĩ. Dù chưa hề có những trải nghiệm thực tế nhưng nhà thơ đã nhận thấy cảm hứng dạt dào đến từ tình yêu của bạn bè, từ bức thư của những người yêu nhau gửi về từ chiến tuyến. Ngay bản thân nhà thơ cũng phải sống trong sự xa cách của tình yêu vì người yêu ông học và công tác ở nơi khác. Bài thơ đến rất tự nhiên với tác giả. Nó mở đầu bằng sự xa cách, khoảng cách thì “rất dài và rất xa”, nhưng “thời gian trong cách trở đốt cháy ngời tình yêu”. Ông nói ý nghĩa của 2 hình ảnh đó: “Cái chết cúi gục đầu/ Cuộc đời xanh tuổi trẻ/ Ngày đêm ta bên nhau/ Những đêm ngày chiến đấu”. Và với Bùi Công Minh, bài thơ ngoài ý nghĩa như một sự tiên đoán cuộc đời sau này, còn thể hiện sự hài hòa trước sau, không mâu thuẫn giữa điều ông nghĩ, điều ông viết và thực tế cuộc sống của ông.

Sau khi viết Ngày và đêm, Bùi Công Minh gửi một chùm 3 bài thơ cho báo Văn nghệ thì báo đăng 2 bài: Mái trường tuổi thơ Ngày và đêm. Có lẽ đó là 2 bài thơ đầu đời của Bùi Công Minh, đánh dấu sự xuất hiện chính thức của ông trên một tờ báo chuyên ngành uy tín của giới cầm bút. Trước đó, ông cũng làm thơ, nhưng chỉ đăng ở báo Thiếu niên Tiền phong. Ông cũng từng đoạt giải A về thơ của tờ báo này khi còn là học sinh lớp 5 của Trường Học sinh miền Nam. Vì vậy, lần đầu tiên xuất hiện trên Văn nghệ, cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn Việt Nam, mà lại được đăng những hai bài liền, ông vô cùng sung sướng. Và số phận bài thơ đã rẽ sang một trang mới khi được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu chắp cánh thêm phần nhạc.

Năm 1974, khi Bùi Công Minh đang lang thang trên đường phố Hà Nội, ông chợt nghe thấy bài thơ của mình nằm gọn ghẽ trong những dòng nhạc của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu. Về sau, Bùi Công Minh mới biết nhạc sĩ cũng có con trai đi bộ đội và con gái ông cũng là cô giáo. Lúc đọc được bài thơ của Bùi Công Minh trên báo Văn nghệ, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đã cảm thấy ngay sự đồng điệu nên ông đã phổ nhạc. Sau này, rất tình cờ, nhà thơ Bùi Công Minh biết, giữa mình và nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu còn có một điểm chung đặc biệt nữa, họ đều là người Đà Nẵng. Sau năm 1975, qua mối duyên thơ và nhạc, cả hai đã vỡ òa trong cảm xúc khi hội ngộ trên quê hương ngày giải phóng. Từ đó, họ vẫn thường liên hệ với nhau.

Khi phổ nhạc, bài thơ Ngày và đêm hầu như được giữ nguyên trọn vẹn và gọn ghẽ trong nhạc phẩm của Phan Huỳnh Điểu. Chỉ riêng câu cuối, để câu nhạc hoàn chỉnh hơn, nhạc sĩ có thêm câu “Đêm ngày trong chiến đấu, anh với em sống vẫn gần nhau”.

Nhà thơ của một bài

Ngẫm về trường hợp bài thơ Ngày và đêm của nhà thơ Bùi Công Minh, dù bản thân ông luôn khiêm tốn nói, ông không dám so với nhiều nhà thơ đi trước, nhưng chúng tôi vẫn cho rằng, có thể xếp ông vào trường hợp những “nhà thơ của một bài” như: Vũ Cao với Núi Đôi, Hữu Loan với Màu tím hoa sim, Vũ Đình Liên với Ông đồ, T.T.K.H. với Hai sắc hoa ti-gôn, v.v…

Cũng theo chính lời chia sẻ của nhà thơ, đến nay, khi đã có 4 tập thơ được xuất bản, nhưng có lẽ bài được nhiều người nhớ đến và yêu mến hơn cả của ông vẫn là Ngày và đêm. Bài thơ đó cũng trở thành cái duyên của riêng ông. Sau này, khi Bùi Công Minh đi dạy học ở trường sư phạm hay trong các trường quân đội, hoặc cả khi ông trở thành Giám đốc Sở Giáo dục tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng trước đây, bài hát trở thành cầu nối giữa ông giám đốc ngành với các thầy cô giáo ở những nơi ông công tác. Bởi lẽ, khi hát lên ca khúc này, mọi người đã có thể hiểu nhau ngay và mọi công việc cũng trở nên trôi chảy.

Có thể nói, bài hát Hành khúc ngày và đêm đã sống trong lòng công chúng hơn 40 năm và với riêng nhà thơ Bùi Công Minh, ông đã có rất nhiều kỷ niệm gắn liền với nó. Bài hát, theo nhà thơ, là sự kết hợp của 3 cảm xúc rất thật: cảm xúc thật của người làm thơ, cảm xúc thật của người phổ nhạc và cảm xúc thật của những người đang yêu nhau, trong chiến tranh cũng như khi hòa bình.

Bài viết liên quan

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *