Thương Linh

Là một nghệ sỹ thuộc lớp “của hiếm”, thế nhưng đang ở những năm tháng tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, ông đã từ bỏ ánh đèn sân khấu để lui về mái nhà tranh bên dòng sông Đáy sống cuộc sống ẩn dật của một người ít nhiều mang trong mình tâm thế của kẻ sinh bất phùng thời. Ông là cố tài tử Thương Linh, một nhạc sỹ có số phận kì lạ, một lương y đã chữa khỏi bệnh mù mắt cho hàng trăm người, một võ sư đã luyện Thiết sa quyền đến độ thượng thừa. Và ít người biết ông còn là một tiểu thuyết gia với hàng vạn trang sách chép tay chưa một lần công bố.

Những ca khúc viết lúc bình minh

Tài tử Thương Linh tên thật là Trần Nguyên Thành, quê ở thôn Hoàng Xá, Liên Bạt huyện Ứng Hòa thuộc Hà Sơn Bình cũ nay là thị trấn Vân Đình, Ứng Hòa, Hà Nội. Những năm 70 của thế kỉ trước ông là giọng ca nổi tiếng và được yêu mến nhất của đoàn văn công Hà Sơn Bình. Thế nhưng, vì những bất đồng trong nghệ thuật và câu chuyện của những nghệ sỹ không xu thời, người nghệ sỹ tài danh ấy đã rời bỏ sân khấu chuyên nghiệp để về quê ở ẩn, một mình lặng lẽ vừa làm công việc của một lương y, một người nông dân để nuôi con, vừa âm thầm sáng tác với một khối lượng tác phẩm đồ sộ ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau. Cho đến tận ngày hôm nay, khi ông đã rời bỏ cõi tạm từ lâu, những sáng tác ấy hầu hết chỉ còn lưu lại trong tâm thức anh em, bạn bè hoặc người thân trong gia đình. Và như một định mệnh, chúng chưa một lần được công bố chính thức.

Tài tử Thương Linh

Trong suốt những năm tháng ấy, mỗi đêm ông lại ôm đàn hát những ca khúc do chính mình sáng tác. Đấy là những ca khúc buồn về tình yêu và thân phận con người. Về khát vọng hạnh phúc và mong ước cho một thế giới hoà bình. Và đôi khi, chỉ tiếng đàn hay tiếng sáo của ông cất lên cũng đủ làm cho người nghe lạc vào một thế giới nhiều nghĩ suy và tâm trạng. Năm 1976 ông kết hôn với một nghệ sỹ múa cùng đoàn nghệ thuật, một solid múa được coi là “cánh chim mặt trời” của giai đoạn đầu những năm 70 và lần lượt 4 đứa con ra đời. Cuộc sống vất vả của một người cha phải làm đủ mọi công việc để nuôi con không làm ngọn lửa sáng tạo trong ông lung lạc. Ông lặng lẽ sáng tác chỉ với một mong ước tận cùng “mong đời sau bớt khổ”. Năm 1990, khi cuộc hôn nhân tan vỡ, ông lại một mình nuôi 4 người con trai học hành nên người và chưa một ngày thôi cầm bút sáng tác. Cho đến khi ông mất năm 2006, ông đã để lại cho thế hệ sau một khối lượng sáng tác đồ sộ.

Sức sáng tạo kinh ngạc

Nhà báo Nhật Minh, con trai của ông cho hay ông có một thói quen sinh hoạt mẫu mực. Sáng nào ông cũng dậy từ 4 sáng để tập thể dục, sau đó lặng lẽ ngồi vào bàn viết. Nét chữ ông bay bổng, ngay ngắn. Ông tự tay đóng những cuốn sổ và viết từ đầu đến cuốn những dòng chữ thẳng băng không bao giờ tẩy xóa dù chỉ một chữ. Chỉ khi nào bị mệt không thể gượng dậy nổi ông mới cho mình nợ một hôm. Một hôm nợ ngồi vào bàn viết ngay sáng hôm sau ông phải dậy sớm hơn để vừa trả hết nợ cũ, vừa hoàn thành “định mức” trong ngày của mình. Khi các con thức dậy ông lại tạm rời xa thế giới của mình để lo toan công việc thường nhật.

Theo lời anh Minh kể lại ông đã viết ròng rã gần 1000 bài thơ, hàng trăm ca khúc và 8 bộ tiểu thuyết viết tay, bộ dài nhất bao gồm 9 tập mỗi tập dày 300 trang giấy, bộ ngắn nhất là 2 tập có cùng độ dài. Điều đau đáu nhất của anh khi nói về người cha đó là mong ước tìm lại được bản thảo của bộ tiểu thuyết 9 tập “Ngàn dặm sông hồ” đang lưu lạc trên đất Mỹ. Vì nội dung huyền ảo pha màu sắc kiếm hiệp nên những cuốn sách ấy không có cơ hội in ấn phát hành tại Việt Nam những năm tháng của thời bao cấp nên một người bạn thân của ông đã cầm sang Mỹ. Tiếc rằng vì nhiều lí do và những trang di cảo còn lại vẫn còn lưu lạc cho đến tận ngày hôm nay. Hiện gia đình ông chỉ còn bản thảo của 2 tập tiểu thuyết Long Phụng hiệp tiên, một bộ sách mà chắc chắn người đọc sẽ bị choáng ngợp trước văn phong trong sáng và sức tưởng tượng phong phú của tác giả.

Người lương y có biệt tài chữa bệnh mù

Không chỉ âm thầm sáng tác, ông còn là truyền nhân của cụ lang Lựa bốc thuốc cứu người nổi tiếng cả đất Hà Tây cũ. Là người được cụ bà truyền nghề gia bảo, ông đã rất nhiều lần chữa sáng đôi mắt cho những người tưởng như không còn cơ hội thấy ánh sáng mặt trời. Bên cạnh đó ông còn mang đến niềm vui cho rất nhiều cặp vợ chồng bị hiếm muộn. Câu chuyện đáng nhớ nhất về nghề y của ông được thân mẫu của ông, cụ lang Lựa năm nay đã 100 tuổi kể đó là một ca bệnh đặc biệt. Bệnh nhân của ca bệnh vô cùng đặc biệt – bởi đó là một con ngựa đã bị mù đôi mắt. Đôi mắt của con ngựa bị roi của bác xà ích vô tình quất phải khiến nó sung vù và mất hoàn toàn khả năng thị giác. Bác xà ích đã dẫn con ngựa đến rất nhiều trạm thú y nhưng tất cả đều lắc đầu trước ca bệnh đặc biệt này. Không còn cách nào, nghe tiếng ông có tài chữa bệnh mù nổi tiếng bác dắt con ngựa đến đánh liều xin ông chữa bệnh. Trước đó ông vốn chỉ chữa bệnh cho người nhưng trước sự vất vả đường xa của bác xà ích ông đành nhận lời. Điều kì diệu là chỉ qua những vị thuốc gia truyền trong vườn nhà ông đã chữa khỏi bệnh mù của chú ngựa. Câu chuyện đó đến giờ còn được tất cả những người già trong thôn kể lại.

Sống lặng lẽ và sáng tạo trong âm thầm, thế nhưng ít ai biết ông còn là một võ sư. Những bằng hữu của ông vẫn nhắc ông ở tài năng khi luyện trường côn, quãng đường từ nhà đến nơi được sư phụ hướng dẫn cả chục cây số không làm ông nản lòng. Ông cũng là thế hệ đầu tiên của môn phái Thiết sa quyền khi mới du nhập vào miền Bắc. Tưởng như người tài tử tài hoa chân yếu tay mềm nhưng ông luyện khí công đến độ có thể uốn cong sắt thép hay đấm đổ cả bức tường là những câu chuyện bình thường. Thế nhưng, theo một đồng môn của ông thì chính việc luyện tập quá sức cộng với cuộc sống nội tâm nhiều tâm trạng u buồn khiến cho con người tưởng như sắt đá ấy chỉ một lần ngã xuống đã ra đi mãi mãi khi những khát vọng cho đời sau còn dang dở. Và những câu chuyện về cuộc đời tài hoa đặc biệt của ông mãi chỉ còn trong những kí ức của người thân.

Và một Màu tím hoa sim khác

Ca sỹ Quang Sơn, người con út của ông kể lại, những biến cố và khí phách người nghệ sỹ trong ông có điểm giống nhau kì lạ với nhà thơ Hữu Loan. Những năm tháng sống ẩn dật xa lánh với đời, ông thuộc nằm lòng những bài thơ của tác giả bài thơ Màu tím hoa sim. Chính sự tương đồng ấy đã giúp ông phổ trọn vẹn bài thơ Màu tím hoa sim thành bản nhạc mà những người hiếm hoi được nghe ca khúc này đều phải ca ngợi là tuyệt bút.

Bản nhạc được viết bằng sự đồng điệu tâm hồn của hai người nghệ sỹ có cùng nỗi u uẩn của thời thế và cảnh ngộ. Dựa trên lời thơ làm chủ đạo, âm nhạc từng nốt được song hành với từng con chữ nhằm tái hiện lại câu chuyện. Giai điệu được vẽ theo nhịp của bài thơ, tính ổn định hay những bước nhảy tạo sự căng thẳng trong giai điệu được bộc lộ rõ. Nhiều nhạc sỹ cùng thời ông đã ví ca khúc như một nhạc kịch đầy nước mắt và tâm sự.

Về lời ca, nhạc sĩ Thương Linh gần như giữ được nguyên gốc những lời thơ của thi sĩ Hữu Loan, chỉ thay đổi một vài từ cho phù hợp với giai điệu của bài hát. Nhạc sĩ Thương Linh đã vẽ ra gần như đầy đủ bức tranh màu tím hoa sim bi tráng tuyệt đẹp. Cảm xúc bị dồn nén đã bật lên nức nở. Sự lặng lẽ và giấu mình của ông đã khiến cho mọi người không thể tin được tại sao nhạc sĩ Thương Linh lại cất kĩ bản nhạc này lâu đến thế.

Về thăm lại nơi ông sinh thành và ra đi mãi mãi, hàng cau, mái nhà cũ rêu phong, những tấm ảnh sờn màu… Tất cả dường như vẫn còn in lại dấu tay và nốt nhạc lòng mà người nghệ sỹ đa tài của miền sông Đáy gửi gắm lại cuộc đời… Một cuộc đời lặng giấu và thăng trầm làm nên “Tài tử Thương Linh”

Bài viết liên quan

Viết bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *